Khám Phá Cố Đô Huế – Kiệt Tác Kiến Trúc Cung Đình Việt Nam

Nhắc đến cố đô Huế người ta thường nghĩ đến nghệ thuật kiến trúc ấn tượng, giao thoa Đông Tây. Công trình vĩ đại này còn là nơi ghi dấu lịch sử dân tộc. Mặc cho vật đổi sao dời kinh thành Huế vẫn đứng sừng sững ở đó. Giữ nguyên vị thế kiệt tác kiến trúc cung đình Việt Nam. 

Quần Thể Di Tích Cố Đô Huế – Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam

Cùng ngắm nhìn một góc của quần thể di tích cố đô Huế

Huế được xem là thủ phủ của nhà Nguyễn từ thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Sau đó được lựa chọn làm kinh đô khi nhà Nguyễn trở thành triều đại vua cuối cùng của nước ta. Quần thể cố đô Huế được xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 dưới sự chỉ đạo của vua Gia Long và tới thời vua Minh Mạng mới hoàn thành. 

Cố đô nằm giữa lòng thành phố Huế hiện nay, được bao quanh bởi sông Hương Giang và núi Ngự Bình. Tổng diện tích của quần thể kiến trúc này lên đến 520 hecta. Công trình được chia thành 3 vòng riêng biệt gồm: Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành.

So với các kinh đô cổ ở Việt Nam thì kinh thành Huế là nơi duy nhất còn bảo lưu gần như nguyên vẹn tổng thể kiến trúc nghệ thuật cung đình. Với hệ thống thành quách, cung điện, đền đài, lăng tẩm… Tất cả nét độc đáo, tinh hoa, đều được chắt lọc hội tụ về đây. Cố Đô Huế chính là biểu tượng của nghệ thuật kiến trúc đỉnh cao do chính bàn tay những nghệ nhân Việt xây dựng lên. 

Cố đô Huế là niềm tự hào của người dân Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Nhưng bạn có biết cố đô Huế được UNESCO công nhận năm nào không? Trải qua biết bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử Cố Đô Huế đã phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề từ chiến tranh và thiên nhiên. Nhưng các giá trị văn hóa và lịch sử của công trình vẫn không hề mai một. Cố Đô Huế vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Đây cũng chính là di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam.

Khám phá Quần thể di tích Cố đô Huế

Cố đô Huế – Di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam

Kinh thành

Kinh Thành Huế hay Thuận Hóa Kinh Thành có diện tích 520 hecta, chu vi 10km, chia thành 3 vòng thành. Công trình có mặt bằng hình vuông, mặt trước uốn hơi cong theo đường sông Hương. 

Vòng ngoài được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo Vauban của phương Tây kết hợp thành quách phương Đông. 24 pháo đài nhô ra ngoài và 13 cửa thành tạo thành vòng phòng hộ khép kín cho toàn bộ Kinh đô. 

Vòng 2 của kinh thành là Hoàng Thành có mặt bằng hình chữ nhật,vòng thành được xây bằng gạch, mũ thành dạng hình thang cân. Thành có 4 cửa được bố trí 4 mặt trong đó cửa chính là Ngọ Môn. Bao quanh có hệ thống hào rộng 16m, cao 4m. 

Vòng trong cùng là Tử Cấm Thành có bình diện hình chữ nhật, chu vi 1300m kết cấu toàn bằng gỗ, lợp ngói lưu li vàng,  với hàng chục công trình kiến trúc lớn nhỏ.

 Năm 1803 việc quy hoạch kinh thành đã được diễn ra và bắt đầu xây dựng từ năm 1805 dưới sự chỉ đạo của Vua Gia Long và đại thần triều Nguyễn. Công trình hoàn thành vào những năm 1831-1832.  Kinh thành Huế được công nhận là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Đại nội

Khu Đại Nội bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng Thành Huế. Có 5 lối vào Ngọ Môn lối giữa dành cho Vua Chúa, hai bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho văn võ, kế đến là dành cho lính gác, voi ngựa theo hầu. Phía trên là lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U chia làm hai tầng và chín bộ mái là nơi tổ chức sự kiện lớn. 

Điện Thái Hòa cùng sân Đại Triều Nghi là nơi diễn ra các buổi thiết triều quan trọng. Đây cũng là nơi còn lưu trữ Ngai Vàng duy nhất tại Việt Nam. Tử Cấm Thành có vị trí sau lưng Điện Thái Hòa là nơi sinh hoạt của Vua và Hoàng gia triều Nguyễn. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy như: điện Càn Thành (nơi vua), điện Khôn Thái (nơi vợ chính vua ở), Duyệt Thị Đường (nhà hát), điện Minh Quang nơi ở các hoàng tử)…

 Khu đại nội được xây dựng vào mùa hè năm 1804, dưới sự giám sát của quan phụ trách “Nguyễn Văn Chương và Lê Chất”. Dưới triều Nguyễn, về mặt hành chính hệ thống Hoàng Cung này được xem là cái rốn, là trọng địa quan trọng tại cố đô Huế, nơi tập trung bộ máy điều hành cao cấp nhất của đất nước. Di tích nội thành của cố đô Huế vẫn đứng vững cho đến hôm nay và trở thành niềm tự hào dân tộc.

Lăng tẩm của các vua Nguyễn

Cố đô Huế không chỉ nổi tiếng về khung cảnh thơ mộng, hữu tình mà nơi đây còn mang theo hơi thở thần bí từ các lăng tẩm của bậc vua chúa xưa. Theo quan niệm “sinh ký tử quy” các vị vua thường xây dựng lăng tẩm cho mình khi còn sống. Nhà Nguyễn có đến 13 triều đại vua nhưng do nhiều lý do lịch sử nên hiện nay ở Huế chỉ còn 7 khu lăng tẩm:

Lăng Gia long (Thiên Thọ Lăng)  năm 1814-1820

– Lăng Minh Mạng(Hiếu Lăng) năm 1840-1843 

– Lăng Thiệu Trị(Xương Lăng) năm 1841-1847

– Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng) năm 1864 – 1867

– Lăng Dục Đức năm 1890

– Lăng Đồng Khánh (Tư Lăng) năm 1889

– Lăng Khải Định( Ứng Lăng) năm 1920-1931

Quy định về lăng và tẩm tại triều đình Huế khá rõ ràng. Nhưng nhìn chung thiết kế và quy mô giữa các lăng tẩm có phần giống nhau. Mỗi lăng mộ đều có 2 vòng thành bao bọc, vòng ngoài xây bằng đá bazan những phần mũ thành xây bằng gạch vồ, trước mộ có hương án. Sau cổng có bình phong trang trí hình long mã và rồng, sau lưng mộ cũng khắc hình rồng cùng kiểu đắp vữa ghép mảnh sành sứ. Các lăng mộ đều được lựa chọn vị trí đầy phong thủy như tọa lạc trên đồi cao, có núi dựa lưng mặt trước là hồ nước, khe suối làm nơi tụ thủy.

Lăng mộ hoàng gia triều Nguyễn là một trong những bộ phận quan trọng của tổng thể kiến trúc kinh đô Huế. Là công trình kiến trúc giao thoa giữa nghệ thuật truyền thống và thiên nhiên.

Kỳ đài trường

Kỳ đài trường hay còn gọi là đỉnh Kỳ Hòa, cột cờ của cố đô Huế nằm ở mặt trước kinh thành. Được thiết kế với hai phần đài cờ và cột cờ. Đài cờ được xây dựng bằng gạch gồm ba tầng như ba hình khối xếp chồng lên nhau theo thứ tự từ bé đến lớn với chiều cao 17,5m. Đỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Cột cờ được dựng ở vị trí chính giữa của tầng cao nhất, lúc trước được làm bằng gỗ, qua các thay đổi của thời gian thì cột được thay bằng ống gang và đến bây giờ là bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m.

Kỳ đài trường được chính thức xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 và được tu sửa nhiều lần qua các năm sau đó. Kỳ Đài vẫn trầm mặc đứng đó hơn hai trăm năm, chứng kiến biết bao thăng trầm cũng như sự kiện quan trọng của đất nước nói chung và Huế nói riêng. Ngày 23/8/1945 lần đầu tiên lá cờ tổ quốc Việt Nam được tung bay trên đỉnh Kỳ Hòa báo hiệu sự chấm dứt chế độ đàn áp. 

Trường Quốc tử giám

Quốc Tử Giám là di tích trường đại học duy nhất thời phong kiến còn tồn tại ở Việt Nam. Là biểu tượng của các khoa thi cử, minh chứng cho tư tưởng coi trọng việc học tại các triều đại Việt Nam. Được xây dựng với lối kiến trúc gỗ truyền thống có giá trị nghệ thuật cao. Cho đến hiện nay các dãy nhà học vẫn giữ được nét cổ kính ban đầu và được sử dụng làm nơi trưng bày hiện vật chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ cứu nước.

Năm 1803 vua Gia Long cho xây Đốc Học Đường tại làng An Ninh Hạ là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Năm 1820 vua cho mở rộng quy mô và đổi tên thành Quốc Tử Giám. Năm 1921 vua cho dựng “Duy Luân Đường” một giảng đường chính và 2 dãy học mỗi dãy có 19 gian phòng học dùng cho học sinh đọc sách, làm bài. Đến thời vua Duy Tân Quốc Tử Giám được dời vào trong kinh thành. Trường Quốc Tử Giám đã có những đóng góp to lớn trong việc đào tạo nhân tài ,nơi lưu giữ dấu chân của các vị trạng nguyên tiến sĩ ngày xưa.

Điện Long An

Điện Long An nằm trong tổng thể kiến trúc của cung Bảo Định, điện có hình chữ nhật. Tiền điện 7 gian, chính điện 5 gian nối nhau bằng hệ thống trần thừa lưu được chạm trổ tinh xảo. Đỉnh nóc chính điện đáp hình đầu rồng đọi hạt trân châu, bốn bờ có tượng long, lân, quy, phụng đắp bằng vữa khảm sành sứ. Những chi tiết gỗ không sơn chỉ để mộc trơn và tô điểm bằng kỹ thuật chạm trổ tinh xảo. Sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và trang trí mỹ thuật đã giúp điện Long An bật lên sự uy nghiêm nhưng ẩn sau đó là nét tinh tế đến lạ kỳ. 

Điện Long An được vua Thiệu Trị cho xây dựng từ vào năm 1845 ở bờ bắc sông Ngự Hà. Được dùng làm nơi nghỉ dưỡng của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền mỗi đầu xuân. Không gian nơi đây rất thích hợp để nghỉ ngơi, làm thơ, ngâm vịnh. Ngoài kiến trúc độc đáo ra Điện còn lưu trữ nhiều tác phẩm chạm trổ tinh xảo chế tác từ các chất liệu như xương, ngà voi, xà cừ khảm lên bề mặt gỗ. Đáng chú ý là hệ thống bài thơ hầu hết là do vua Thiệu Trị sáng tác, thơ được sắp xếp hầu hết ở khắp trong ngoài điện nhưng không bị lặp rất hài hòa. Qua bao lần bị Pháp tấn công điện đã được di chuyển vị trí vào năm 1909 và phục hưng làm Tân Thơ Viện lưu trữ tư liệu phục vụ cho Quốc Tử Giám.

Đình Phú Xuân

Đình Phú Xuân từ lâu đã nổi danh với kiến trúc dân gian độc đáo gồm cổng Tam Quan, Bình phong, Đình họp, Đình tế. Cổng Tam quan có 4 trụ biểu hình vuông. Trụ biểu được trang trí hình tượng búp sen, hoa lá, câu đối. Sau bình phong có lư hương cao 1,50m được xây bằng gạch và xi măng. Ðình họp là ngôi nhà rường ba gian. Ðình tế xây dựng theo kiểu “thượng song hạ bản”, các đường xuyên thổ, liên ba làm bằng gỗ lim, được chạm trổ hoa lá cách điệu, mái lợp ngói liệt. Gian giữa thờ các vị khai canh, gian tả thờ các vị có công với làng với họ, gian hữu thờ các vị Tiên tổ.

Đình Phú Xuân được xây dựng vào khoảng thế kỷ 19 là di tích gắn với lịch sử Phú Xuân nơi Chúa Nguyễn chọn đặt phủ chúa xứ ở Đàng trong. Quá trình xây dựng kinh thành, mặc dù phải giải tán hoàn toàn các di tích cũ nhưng vua Gia Long vẫn giữ nguyên đình làng Phú Xuân và tu sửa lại sau đó. Đây là thiết kế dân gian duy nhất còn tồn tại trong kinh thành Huế chứng minh lịch sử cho sự hình thành và phát triển của cố đô Huế.

Quần thể kiến trúc vàng son của triều Nguyễn

Cố đô Huế là công trình thành quách cổ duy nhất còn nguyên vẹn của nước ta

Tinh Hoa kiến Trúc Đông Tây

Cố đô Huế là công trình thành quách cổ duy nhất còn nguyên vẹn của nước ta. Kinh đô cuối cùng được bảo trì nguyên vẹn và mang những giá trị lớn lao về nghệ thuật – kiến trúc. Cố đô Huế mang kiến trúc thành quách phương Đông đặc trưng và kết hợp kiến trúc lâu đài Tây Phương cổ đại. 

Kiến trúc thành quách phương Đông

Hệ thống thành quách của kinh thành Huế bao gồm nhiều lớp không gian, với ba vòng thành là: Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành. 

Kinh thành là nơi sinh sống của quan lại và dân cư. Được thiết kế mang phong cách kiến trúc Vauban, đây là kiểu kiến trúc mang tính phòng thủ toàn diện. 

Hoàng thành được thiết kế dạng hình chữ nhật, phía bên trong được phân chia theo chức năng sử dụng. Đây là  nơi làm việc của triều đình và thờ tự Vua chúa. 

Tử Cấm Thành là lớp không gian vòng thành trong cùng. Chính là nơi ở và sinh hoạt của vua, hoàng hậu và các cung tần mỹ nữ. Cấu trúc lớp không gian các vòng thành được tổ chức bao bọc thống nhất, chặt chẽ và hài hoà tạo nên sự độc đáo của kiến trúc Đông Tây

Thời nhà Nguyễn lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng sâu sắc với nguyên tắc quy hoạch kiến trúc truyền thống phương Đông, cụ thể các tiêu chí xây dựng được rút ra từ Dịch lý và thuật phong thủy. Sông Hương và núi Ngự Bình đóng vai trò minh đường và bình phong cho Kinh thành. Cồn Hến và cồn Dã Viên là hai yếu tố tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ. Theo phong thủy đây sẽ là nơi tụ thủy, đất phát tài. Cùng với đó là sự kết hợp với kiểu kiến trúc phòng thủ chặt chẽ Vauban, nhằm xây dựng Kinh Thành vững mạnh, kiên cố, đồng thời phải biểu hiện sức mạnh chính trị và quân sự.

13 cửa ra vào kinh thành Huế

13 cổng thành là tinh hoa của cố đô Huế. Người dân Kinh đô xưa thông qua 13 cửa thành để ra vào. Trong đó chia thành 11 cửa bộ  và 2 cửa đường thủy,  11 cửa bộ  có 10 cửa thông ra ngoài thành và một cửa nội: 

  1. Cửa Ngăn 
  2.  Cửa Sập (cửa Quảng Đức)
  3. Chánh Nam Môn- Cửa nhà đồ
  4. Đông Nam Môn-Cửa thượng tứ
  5. Chánh Đông Môn – Cửa Đông Ba
  6. Đông Bắc Môn – Cửa kẻ Trài
  7. Cửa Hậu
  8. Cửa An Hòa
  9. Cửa Chánh Tây
  10.  Cửa Hữu
  11.  Trấn Bình Môn (cửa nội)
  12. Đông Thành Thủy Quan (cửa thủy)
  13. Tây Thành Thủy Quan (cửa thủy)

10 cửa bộ được nhà Nguyễn xây dựng với chất liệu là gạch đá, mái lợp ngói ống. Ngoài cửa nội Trấn Bình Môn thì trên các cửa thành đều có những vọng lâu 2 tầng theo dạng Tam quan, chiều cao trên 9m so với cửa thành. Tầng dưới cùng cửa thành trổ xuyên qua thân thành theo dạng Nguyệt môn. Lòng cửa hình vòm cuốn có chiều rộng là 3,82m và cao 5,19m.

 Mỗi cửa có hai cánh lớn làm bằng gỗ lim, được nẹp sắt lại, phía dưới có gắn bánh xe để thuận tiện cho việc đóng mở, then cửa làm bằng thanh đá rất kiên cố. Các cửa ra vào của kinh thành Huế cũng được xây dựng dựa trên sự kết hợp kiến trúc Đông-Tây. Phần giữa cửa thành là những khối đá vuông kiên cố, còn phân thân được xây theo phong cách Vauban với 2 hệ thống lan can lối đi bộ. Sự phong phú, đa dạng và  độc đáo của kiến trúc cửa cung đình Huế đã thể hiện tài năng xuất chúng của các nghệ nhân Việt Nam xưa.

Phong thủy kinh đô

Những công trình kiến trúc trong quần thể cố đô Huế được xây dựng tuân thủ theo các nguyên tắc phong thủy từ dịch học, lý số, phong thủy Đông phương. 

Sông Hương – núi Ngự chính là là sự vận dụng phong thủy đỉnh cao. Hướng của cố đô Huế quay mặt về hướng Đông Nam cho nên sông Hương sẽ là yếu tố minh thủy. Núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, dáng đẹp, nằm giữa vùng đồng bằng. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ tỏ ý tôn trọng vương quyền. Việc tuân theo nguyên tắc phong thủy đã tạo nên sinh khí tuyệt vời cho kinh thành Huế. 

Ngọ Môn là cổng chính phía Nam của Hoàng thành Huế, là nơi ra vào của vua trong những đại lễ quan trọng. Theo Dịch học, hướng Nam là hướng dành cho bậc vua chúa để luôn hướng về ánh sáng, để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách sáng suốt. Ngoài ra Ngọ Môn thiết kế hình chữ U ở thế thu vào, mục đích là thu cát khí của phương Nam, sinh vượng cho tòa thành, nói cách khác chính là luôn tiếp thu sự đóng góp tốt lành của nhân dân và thần tử để đế quốc luôn tốt đẹp.

Các con số Dịch học đã được áp dụng tối đa trong kiến trúc cung đình Huế, nhất là số 9 và số 5. Cửa Ngọ Môn bao gồm 5 cửa 9 lầu, bậc thang để đi lên điện Thái Hòa bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5 cấp. Các con số 9 và số 5 trong Kinh dịch được sử dụng nhiều trong kiến trúc vì nó ứng với mệnh Thiên tử.

Kinh thành – kiệt tác kiến trúc “rất Huế”

Kiến trúc cố đô Huế chính là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam với một hệ thống công trình kiến trúc đồ sộ, bao gồm thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, chùa quán… được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, tuyệt đẹp với sông Hương, núi Ngự… 

Các công trình kiến trúc đều sử dụng văn thơ làm hoa văn để trang trí trên liên ba, đố bản, cổ diềm ở cả nội và ngoại thất công trình. Và cách trang trí 1 ô thơ hoặc 1 đại tự đi liền với 1 bức họa tạo nên kiểu thức “nhất thi nhất họa” hoặc “nhất tự nhất họa” gần như đã trở thành một phong cách riêng trong trang trí kiến trúc cung đình thời Nguyễn. Một ô thơ đi kèm với một ô họa khắc những đề tài truyền thống thuần túy Việt Nam như bát bửu, hoa lá, trái cây, rồng, hạc, đầu rồng, dây lá…. 

Những người thợ thủ công mỹ nghệ tài hoa trên các lĩnh vực chạm khảm, điêu khắc, thêu gấm… đã có công không nhỏ trong việc chạm khảm thành quách, lăng tẩm của cung đình, thêu gấm trang phục, nội thất của vua chúa. 

Kết

Cố đô Huế đã lặng lẽ đứng đó nhìn đất nước ngày một thay đổi và phát triển qua năm tháng. Dù bao thập kỷ trôi qua đi nữa thì cố đô Huế vẫn là một di sản văn hóa vật thể, tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn, quốc túy của dân tộc. Chính vì vậy mà chúng ta cần phải giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản cố đô Huế. 

Xem thêm các bài viết cùng chủ đề tại đây

Lê Na– Trần Hân

0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments